THỜI XỬA THỜI NAY

THỜI XỬA THỜI NAY

(Tác giả: Phan Lặng Yên)

“Đôi khi cả mặt trăng cũng bị che khuất sau làn mây. Và con người còn nhỏ bé hơn những vì sao. Đôi khi chúng ta có thể mất hút vào trong bóng tối.”

𝟏/ Hai ông trùm thời kỷ nguyên vàng của điện ảnh Nhật là Kurosawa và Ozu. Kể cũng lạ. Một người thì Tây-không-thể-Tây-hơn, người thì Nhật-không-thể-Nhật-hơn. Ngôn ngữ của họ cũng hết sức đối lập. Phim Kurosawa lúc nào cũng to lớn, kỳ vĩ, hoành tráng, ghê gớm, tham vọng. Cốt truyện dữ dội, cảm xúc gay gắt, diễn xuất cường điệu (ông bảo diễn viên phải gồng lên như diễn kịch Noh). Ông đặc biệt yêu thích chuyển động. Hầu như khung hình của ông lúc nào cũng có gì đó chuyển động, hoặc là thời tiết (mưa, gió, mây, khói), con người (nhân vật/đoàn người di chuyển), hành động (cau có, khóc lóc, đâm chém, tóe máu), hoặc là ống kính dịch chuyển.

Kurosawa giống như Beethoven của điện ảnh. Ông không ngồi yên để “lôi cuốn” khán giả vào mình, mà chủ động vươn tay ra khỏi màn ảnh, thậm chí chẳng ngại để bàn tay đó quanh cổ khán giả.

Ở đầu bên kia, Ozu lại trầm lắng, thân tình tựa như Chopin. Phim Ozu xoay quanh những câu chuyện rất đời thường, dung dị, riêng tư. Nhân vật hiền hòa, mạch truyện êm đềm, không gian bình lặng. Ozu không thích chuyển động. Ông thường giữ cho khung hình tĩnh tại, thậm chí nán lại trước những vật dụng tầm thường khá lâu, như thể hiện niềm trân trọng với những thứ vụn vặt (pillow shot). Ozu thường tận dụng các chi tiết hình học (composition) từ những thứ ít người để ý (khung cửa, bàn, ghế, bình sake) để tạo nên chiều sâu và sự cân đối, nhờ đó mọi thứ đều trông rất hài hòa, thu hút tầm mắt người xem trong vô thức. Hầu như khoảnh khắc nào trên phim Ozu cũng mang lại niềm an ủi rất dịu dàng, thuần khiết, mà vẫn chạm đến cốt lõi của trải nghiệm nhân sinh.

Phim Ozu thường na ná nhau, lúc nào cũng xoay quanh chuyện cưới xin rồi bi kịch cha mẹ-con cái. Ozu bảo mình giống thợ làm đậu phụ: “Tôi có thể làm đậu phụ chiên, đậu phụ luộc, đậu phụ nhồi. Cốt lết và những món mỹ vị khác là dành cho các đạo diễn khác”. Tính cách không tham vọng, hoàn toàn hài lòng với giới hạn của mình khiến tôi không khỏi nhớ tới Chopin. Ngày xưa Chopin ít khi phô diễn ngón đàn ở nhà hát lớn, mà chỉ thích chơi đàn ở không gian riêng tư, thân mật. Người ta hay than phiền tiếng đàn Chopin nhỏ quá, ông cũng không cố chơi to lên. Nghệ thuật không cần phải to tát để trở nên vĩ đại.

Nghệ thuật của Chopin và Ozu đặt nhiều nhiều tin vào khán giả. Họ tin rằng khán giả không nhất thiết phải ngồi yên tiếp nhận nghệ thuật, mà có thể chủ động vươn mình ra với nghệ thuật.

Nhìn khung hình bên dưới, thoạt nhìn thì có vẻ bình thường, nhưng thật ra mọi thứ đều được bài trí rất dụng công, kỹ lưỡng. Để ý cách mắt mình đảo từ tiền cảnh (khối tròn, bình, giỏ), đến trung cảnh (cửa kéo), đến hậu cảnh (ấm nước, bóng đèn), tạo nên độ sâu, các đường ngang và dọc của bàn và cửa tạo nên bố cục nhịp nhàng cân đối, trong khi những đồ dùng thân thuộc mang lại cảm giác bình yên, còn câu thoại lại quyến rũ mình bằng nỗi buồn mông lung trước cuộc đời vô thường (mono no aware): “Đôi khi cả mặt trăng cũng bị che khuất sau làn mây. Và con người còn nhỏ bé hơn những vì sao. Đôi khi chúng ta có thể mất hút vào trong bóng tối.”

Đây là lý do tôi thích nghệ thuật kinh điển. Nó tựa như khám phá ra một ngôn ngữ mới, hoặc một kho báu mà người ta đã lãng quên.

𝟐/ Mỗi khi có cuộc bàn luận về thưởng thức nghệ thuật kinh điển, bất luận là nhạc/họa/văn/phim kinh điển, ở VN lại hay nảy sinh trường phái “hãy tôn trọng sở thích khác biệt, nghe Bolero cũng như nghe Bach, không ai có quyền ép buộc sở thích của người khác blah blah.” Về bản chất, họ cho rằng việc kêu gọi thưởng thức nghệ thuật kinh điển là xâm phạm tự do cá nhân. Thật là lầm lạc.

Thứ nhất là ở đây chẳng có sự “ép buộc” nào. Nếu bạn đi trên dãy hành lang, có vài chỗ dán ghi chú nhắc bạn chưa mở cánh cửa này bao giờ, nó khác với việc có kẻ cướp kề dao vào cổ bảo mày phải mở cửa ABC không ông chém chết. Thứ nữa là khi mở thêm một cánh cửa, bạn sẽ đến được nhiều nơi hơn, tức là mở rộng chứ không phải co hẹp quyền tự do của bạn. Hiểu thêm một ngôn ngữ nghệ thuật chỉ làm cho thẩm mỹ của bạn phong phú hơn chứ chẳng lấy mất của bạn cái gì.

Chưa kể, cái bạn nghĩ là “sở thích tự do cá nhân” đôi khi chỉ là ảo ảnh. Trong cuốn “How Art Works”, nhà tâm lý học Ellen Winner giải thích người ta hình thành gu thẩm mỹ dựa trên những gì họ thấy quen thuộc. Nếu một người nghe một bài hát thường xuyên tự nhiên sẽ thấy nó hay hơn, và tìm nghe những bài hát tương tự. Rồi càng nghe lại thấy hay, lại nghe nhiều hơn, lại thấy hay hơn. Từ đó hình thành một “vùng êm tai” mà họ gọi là “gu nhạc”.

Điều này tạo ra một kiểu bẫy vòng tròn. Người VN tiếp xúc nhiều với nhạc bolero/nhạc đại chúng VN từ nhỏ, lớn lên dễ thích kiểu nhạc tương tự. Những kiểu thẩm mỹ khác biệt về không gian (châu lục khác) hoặc thời gian (thời đại khác) mà họ không quen thuộc, họ sẽ khó cảm và ngại tiếp xúc. Mà càng ít tiếp xúc lại càng khó cảm. Trong môi trường VN ít phổ biến nhạc Bach, phần lớn người Việt sẽ không thấy Bach hay, và không bao giờ muốn nghe Bach. Tương tự, cũng sẽ ít người Việt muốn thưởng thức Shakespeare, ballet, opera, hội họa, nhạc cổ điển, phim kinh điển, văn học châu Phi v.v. Người ta nghĩ đó là quyền tự do cá nhân, nhưng thật ra sở thích của họ được quy định phần lớn bởi môi trường sống, xã hội và văn hóa xung quanh họ.

𝟑/ Trong khi bên kia sông kêu gọi “bảo vệ tự do cá nhân”, thì bên này sông kêu gọi thưởng thức nghệ thuật kinh điển để “bảo vệ tinh hoa ưu việt”. Trường phái này thường lầm lạc theo một kiểu khác. Một là “tinh hoa” (hiểu theo nghĩa elitism) bây giờ không còn là giá trị mang nhiều thiện cảm hay đáng theo đuổi nữa. Một ví dụ là các nhà hát lớn trên thế giới ngày càng tìm cách “đại chúng hóa” các dạng nghệ thuật bác học bằng cách làm mới opera/kịch nghệ theo đủ cách. Có lần tôi xem vở opera Julius Caesare được chuyển thể sang bối cảnh hiện đại, trong đó Caesare trở thành tổng thống Kennedy còn Cleopatra là Marilyn Monroe. Metopera cũng từng dựng vở Tristan Isolde, vốn là chuyện thời trung cổ, trong bối cảnh thế chiến 2, với đủ thứ súng đạn bom hạt nhân. Đây gần như là xu hướng chung, bây giờ khó tìm được một vở opera/kịch Shakespeare được dựng theo đúng bối cảnh quý tộc nữa.

Hai là, những kiểu suy nghĩ “nghệ thuật thời xưa luôn ưu việt hơn thời nay” thường không tính đến việc mọi nghệ thuật kinh điển đều từng một thời là nghệ thuật hiện đại, và vào thời đại của chúng thì chưa chắc chúng đã được coi là ưu việt hay thưởng thức với thái độ nghiêm cẩn như bây giờ (y chang như cách chúng ta đối đãi với nghệ thuật thời nay). Có không ít văn nghệ sĩ mà ngày nay chúng ta xem là vĩ đại, ngày xưa lại không được ai trân trọng, chết trong vô danh và tin rằng mình sẽ bị lịch sử lãng quên (Van Gogh, Melville, Vermeer, Thoreau, Kafka, Dickinson, El Greco).

Fitzgerald (tác giả Gatsby vĩ đại) từng có cuộc hôn nhân sóng gió với cô tiểu thư Zelda. Vốn là cặp đôi trai tài gái sắc bậc nhất thời Jazz age, nhưng cuộc sống của họ luôn căng thẳng vì túng thiếu tiền bạc. Sách Fitzgerald viết không ai mua, tài năng không ai công nhận. Khi đó chả có ai vinh danh Gatsby như cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của nước Mỹ. Sau cùng Zelda nhập viện tâm thần, trong khi Fitzgerald sa vào cơn nghiện rượu bất khả cứu vãn rồi mất sớm ở tuổi 44. Ông bảo mình đã “buông bỏ mọi sức lực để hy vọng trên những lối nhỏ dẫn đến viện tâm thần của Zelda.” Nỗi tuyệt vọng thê thảm ấy được kể lại trong tiểu thuyết “Dịu dàng là đêm”, vốn là cuốn tiểu thuyết xúc động và riêng tư nhất của Fitzgerald (tất nhiên là cũng không ai đọc).

Amedeo Modigliani, nay được xem như một trong những danh họa lừng lẫy nhất thời Fin-de-Siècle Pháp, cũng từng có mối tình bi thảm với cô tiểu thư quyền quý Jeanne Hébuterne. Modigliani bị lao nặng. Để che giấu triệu chứng bệnh, ông uống rượu rất nhiều, đến mức trở thành tay nghiện rượu có tiếng. Modigliani khi đó 33 tuổi, nghèo khổ, vô danh, trong khi Hébuterne xinh đẹp mới 19 tuổi. Gia đình Hébuterne phản đối quyết liệt, nhưng cô vẫn ở bên chăm sóc ông đến khi ông mất 3 năm sau đó. Hai ngày sau khi ông mất, gia đình đưa cô về nhà. Cô đau buồn đến mức nhảy từ cửa sổ lầu năm xuống, chết cùng đứa con 8 tháng tuổi trong bụng. Đến chết, gia đình cô vẫn không cho hai người gần nhau, tận 10 năm sau họ mới cho phép dời mộ cô đến chôn cạnh Modigliani.

(Có khi bây giờ, trong khi bạn đang chăm chú tán dương nghệ thuật thời xưa, thì ở một chỗ xó xỉnh nào đó đang có gã nghệ sĩ say xỉn nghèo đói cắt tai, không ai quan tâm, không ai muốn cưới hỏi, chừng trăm năm sau lại nổi lên làm nhân loại nức nở: “ôi bọn thế kỷ 21 chả biết trân trọng nghệ thuật đã để một nghệ sĩ vĩ đại chết đói thế này đây.”)

𝟒/ Nhiều nghệ sĩ vĩ đại thời xưa, nếu mà còn sống đến thời nay, có khi còn ngạc nhiên khi nghe người ta gọi nghệ thuật của họ là “bác học”. Shakespeare viết kịch cho cả giới quý tộc lẫn bình dân, thu hút đủ mọi thành phần không chỉ nhờ tính chân-thiện-mỹ mà cả tính giải trí dân dã. Trong khi ngày nay học sinh ăn mặc chỉnh tề, ngồi đọc Hamlet, căng não triết lý về các thể loại bút chì, “2B or not 2B”, thì thường dân Anh thời Elizabeth còn chả biết là họ có mỹ cảm cao siêu đến thế. Thời đó người ta thích xem chọi gấu tức xem mấy con chó xé xác con gấu đầy máu me, hoặc xem cảnh xử tử tức chặt đầu treo cổ tù nhân đầy máu me, tóm lại là thích mấy thứ bốp chát ghê rợn máu me. Họ kéo nhau đi xem kịch Shakespeare vì có mấy cảnh như Hamlet đấu kiếm đâm chém ọc ọc máu me phọt ra tứ phía, rồi xem tình tiết câu chuyện căng thẳng rối loạn xoắn tít cả lên, trong khi Hamlet nói mấy thứ văn vẻ hay ho, lâu lâu xen vào vài chỗ tục tục (kịch Shakespeare thật ra nhiều chỗ tục lắm nhé, y như Hồ Xuân Hương; ví dụ như “Much Ado about Nothing” thì “nothing” là từ lóng chỉ cái vagina.) Thời đó không có tivi, thì người ta tìm đến kịch nghệ để giải trí và trước hết là giải trí, chứ không phải để tìm “tinh hoa”.

Đợt nào có vị quan chức VN ngồi ngáp trong khi nghe nhạc cổ điển rồi dân tình cười chê, nhưng thật ra cái quy tắc “lắng nghe trang nghiêm” chỉ mới xuất hiện rất gần đây. Thời Bach, Mozart hay Beethoven, không khí trong nhà hát khá rôm rả. Người ta vô tư cười nói, thích đoạn nào cứ vỗ tay bộp bộp, bravo, hoan hô, thích nhạc công chơi lại thì hô to “lại đê!” (encore), không khác các show nhạc pop bây giờ là mấy. Ngày nay người ta xao xuyến trước tổ khúc Bốn mùa, chứ thời Vivaldi dân tình đổ xô đi xem nhạc của ông chủ yếu để ngắm gái đẹp chơi đàn (dàn nhạc của Vivaldi là một trong những dàn nhạc đầu tiên cho phép nữ giới trình diễn). Các nhà hát opera ở Venice ngày xưa là điểm giải trí quy tụ mọi thành phần, nhưng giới quý tộc thường có buồng riêng ở tầng trên. Trên đó, họ vừa nghe opera vừa đánh bài, ăn uống, nói chuyện, nghía trai gái đẹp, và quăng vỏ cam hoặc nhổ nước bọt xuống đám thường dân phía dưới. Đến tận thế kỷ 19, Liszt (khi đó đã là nghệ sĩ dương cầm lừng danh thế giới) sang Nga biểu diễn trước Sa hoàng Nicholas, ông sa hoàng cứ mải mê nói chuyện ồn ào lấn lướt tiếng nhạc, đến mức Liszt phải dừng lại. Sa hoàng chột dạ hỏi ủa sao không chơi nữa, Liszt mới trả lời “Cả âm nhạc cũng phải im bặt khi Nicholas cất tiếng.” Sa hoàng im luôn.

Rõ là suốt một thời gian dài, việc nói chuyện/xao lãng trong lúc nghe nhạc cổ điển không phải quá biệt lệ, bất lịch sự, thiếu cao quý… như quan niệm ngày nay. Khán giả thời nào cũng không nghĩ nghệ thuật thời họ là “tinh hoa nhân loại”, mà cả nghệ sĩ cũng không kỳ vọng tác phẩm của mình được tôn kính đến thế.

𝟓/ Ngay cả quan niệm mọi loại hình nghệ thuật (cả kinh điển lẫn hiện đại) có một giá trị nội tại nào đó giúp người ta sống tốt hơn, thực tế cũng cho thấy là không đúng, về cả khoản “sống” lẫn khoản “tốt”. Người đọc sách sẽ hiểu, sách vở/nghệ thuật chẳng những không giúp cuộc sống dễ dàng hơn, mà còn khiến người ta cảm thấy nhiều nỗi đau hơn. Không ít nhà văn từng sống cuộc đời dằn vặt khổ sở (Dickens, Tolstoy, Kafka, Joyce, Faulkner, Fitzgerald, Henry Green, Elsa Morante, Dylan Thomas) và không ít người tự tử (Seneca the Younger, Nerval, Hemingway, Plath, Pavese, Zweig, Mayakovsky, Woolf, Mishima, Kawabata, David Foster Wallace).

Hiểu biết về nghệ thuật cũng không đảm bảo người ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nếu nhìn nhận văn nghệ sĩ như những người tiếp xúc với nghệ thuật thường xuyên nhất, thì tình hình đạo đức thực sự không khả quan lắm. Không hiếm người từng phạm tội, giết người, xâm hại tình dục người khác, ấu dâm hoặc nghi ngờ ấu dâm (Roman Polanski, Woody Allen, V. S. Naipaul, William Burroughs, Norman Mailer, JD Salinger, Caravaggio, Elvis Presley, Charlie Chaplin, Paul Gauguin). Không hiếm người từng có thành kiến phân biệt chủng tộc, chống phụ nữ, bài Do Thái (Ezra Pound, Patricia Highsmith, Flannery O’Connor, Walt Whitman, Richard Wagner, Edgar Degas), hoặc là người chồng người cha tồi tệ (John Lennon, Hemingway, Charles Dickens, Jean-Jacques Rousseau). Cả Hitler và Stalin đều đam mê nghệ thuật kinh điển, không có gì đảm bảo sẽ có ít người chết dưới tay họ, hoặc văn nghệ sĩ sẽ bớt khổ sở dưới thời họ.

𝟔/ Nhìn nhận như vậy, thật ra không có nhiều lý do để đến với nghệ thuật kinh điển. Có lần có người hỏi Sister Wendy (một sử gia nghệ thuật rất được yêu mến) rằng tại sao Michelangelo lại nổi tiếng trong khi tôi thấy tác phẩm của ông chẳng có gì đẹp, bà bảo Michelangelo là một vẻ đẹp lớn, và đôi mắt người nhìn cũng phải đủ lớn để có thể thấy nó. Tôi nghĩ, tôi tìm đến Bach, Shakespeare, Ozu, Michelangelo… cũng chỉ vì một lý do riêng tư, là để lớn lên. “Lớn” không có nghĩa là trở nên hạnh phúc, tử tế, tốt đẹp, vĩ đại, cao quý, bác học, tinh hoa, ưu việt các thứ (mấy thứ đó leng keng quá). “Lớn” chỉ có nghĩa là thấy cuộc đời mình tròn đầy hơn, và trong vài giây phút thảng hoặc, cảm tưởng như mình chạm đến ý nghĩa của sự tồn tại.
Tôi nghĩ vậy là đủ rồi.

Đọc bài viết gốc của tác giả tại đây

Please follow and like us:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *